Luật hôn nhân đồng giới ở việt nam 2024 quy định thế nào?

Đức Khôi 13/12/2023
Luật hôn nhân đồng giới ở Việt Nam 2024

Hôn nhân đồng giới đang là một trong những vấn đề xã hội gây ra nhiều quan điểm trái chiều, trong đó có một quốc gia với chế độ một vợ một chồng như Việt Nam. Vậy ở Việt Nam có luật hôn nhân đồng giới ở việt nam 2024 không?

Luật hôn nhân đồng giới ở Việt Nam 2024 đang là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm hiện nay bởi cộng đồng LGBT ở Việt Nam đang ngày phát triển và có xu hướng gia tăng. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện chỉ quy định về chế độ hôn nhân một vợ, một chồng bình đẳng và cũng không ngăn cấm hay ghi nhận về LGBT. Bài viết dưới đây sẽ là cập nhật của chúng tôi về Luật hôn nhân đồng giới ở Việt Nam 2024 – Có hay không?

Luật hôn nhân đồng giới ở Việt Nam 2024 có được phép hay không?

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là một trong những pháp luật cụ thể về chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam, quy định những chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình cũng như trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.

Mở đầu giải thích từ ngữ, Luật hôn nhân và gia đình đã nêu lên khái niệm hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn dựa trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Tại Khoản 2, Điều 5, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các hành vi cấm:

  • Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
  • Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
  • Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
  • Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
  • Yêu sách của cải trong kết hôn;
  • Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
  • Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
  • Bạo lực gia đình;
  • Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

Như vậy, ngoài 09 trường hợp trên thì Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không cấm hôn nhân đồng giới, tức là việc kết hôn giữa nam và nam hoặc giữa nữ và nữ. Tuy nhiên, cũng không quy định (tức là không thừa nhận) kết hôn đồng giới bởi khoản 2, Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình nói rõ: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Đọc thêmThủ tục nhận con nuôi là trẻ sơ sinh mới nhất năm 2024

Có xử phạt khi kết hôn giữa những người đồng giới không?

Đồng tính luyến ái, còn gọi tắt là đồng tính, là sự hấp dẫn về tình cảm hoặc về tình dục giữa những người cùng giới tính (nam với nam, nữ với nữ) với nhau trong một hoàn cảnh tạm thời hoặc lâu dài.

Trước đây, khi chưa có Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Việt Nam cấm người kết hôn đồng giới và quy định mức xử phạt tiền từ 100.000 – 500.000 đồng với hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Tuy nhiên, kể từ khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời thì đã chỉ rõ: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính và đây cũng không thuộc các trường hợp bị cấm tại Khoản 2, Điều 5 của luật này.

Tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình cũng không quy định một hình phạt nào về kết hôn cùng giới tính do đó không bị xử phạt nhưng cũng không được kết hôn giữa nhưng người đồng giới tính ở Việt Nam.

Có phát sinh nghĩa vụ vợ chồng, nghĩa vụ tài sản khi kết hôn đồng giới không? Khi có tranh chấp thì xử lý như thế nào?

Vì việc có nên công nhận hôn nhân đồng giới hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Dưới 02 xu hướng lập trường là những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng giới là thể hiện sự bình đẳng giữa con người, đồng thời pháp luật không nên ngăn cản việc kết hôn của con người nếu họ thực sự muốn vậy. Nhưng bên cạnh đó, lại xuất hiện nhiều quan điểm trái chiều bởi sự lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội, đặc biệt là với trẻ em và văn hóa đặc thù của quốc gia đó.

Ở Việt Nam, nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính vì vậy trên thực tế, các cặp đôi có tổ chức hôn lễ, tiến hành kết hôn với nhau nhưng điều quan trọng nhất để làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng và nghĩa vụ tài sản trong khi hôn nhân là đăng ký kết hôn thì không được.

Do đó, quan hệ hôn nhân của họ không được pháp luật thừa nhận và bởi vậy, con cái, nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là những quan hệ không tồn tại.

Từ điều này, kéo theo việc sẽ không áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì không được giải quyết và chia theo nguyên tắc chung về tài sản vợ chồng mà sẽ giải quyết dựa trên quy định về nghĩa vụ dân sự. Tài sản của ai thì sẽ của người đó như hai chủ thể với nhau theo thỏa thuận của pháp luật về dân sự.

Đọc thêmThủ tục kết hôn với người nước ngoài 2024 gồm những gì?

Có công nhận hôn nhân với một bên là người chuyển đổi giới tính hay không?

Bộ luật dân sự ở Việt Nam đã cho phép việc chuyển đổi giới tính. Theo đó, người đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch (Xác định lại giới tính); có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Như vậy, tại Việt Nam vẫn sẽ công nhận hôn nhân với một bên là người chuyển đổi giới tính với điều kiện người đó phải làm thủ tục xác định lại giới tính của mình sau khi chuyển giới. Sau khi được xác định lại giới tính thì sẽ được kết hôn và thừa nhận.

Tuy nhiên một vướng mắc đang tồn tại hiện nay thì chưa có một văn bản nào hướng dẫn về thủ tục xác nhận giới tính hay thay đổi giới tính cho người đồng giới mà chỉ ở các trường hợp cụ thể là. Khuyết tật bẩm sinh về giới tính:

  • Nam lưỡng giới giả nữ;
  • Nữ lưỡng giới giả nam;
  • Lưỡng giới thật.

Nhiễm sắc thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hóa hoàn toàn và không thể xác định chính xác là nam hay nữ.

Toàn bộ các nội dung trên đây là những tư vấn của Đức Khôi về Luật hôn nhân đồng giới ở Việt Nam 2024. Có thể nói, đây hiện đang còn là một vấn đề gây tranh cãi bởi pháp luật Việt Nam còn chưa có những văn bản hướng dẫn chi tiết với tình trạng này. Trong tương lai, cộng đồng LGBT sẽ ngày càng phát triển và yêu cầu pháp luật về hôn nhân, gia đình có những quy định cụ thể hơn để làm rõ những vướng mắc của cộng đồng LGBT.

5 1 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận